Chẩn đoán bệnh lý chóng mặt

Chóng mặt là triệu chứng khá phổ biến trong đời sống thường ngày. Vậy bệnh lý chóng mặt là gì?

Tìm hiểu về chứng chóng mặt

Tìm hiểu về chứng chóng mặt

Sinh lý bệnh chóng mặt

Chóng mặt là một cảm giác sai lầm, một cảm nhận không đúng về sự chuyển động của các đồ vật với một cá nhân, đối tượng hoặc của đối tượng đó đối với các đồ vật xung quanh mình. Chóng mặt thường kèm theo đồng thời với dấu hiệu rung giật nhãn cầu ( rung giật mắt- tiền đình) phản ánh sự xâm phạm vào hệ tiền đình.

Khi thông tin từ các tế bào thần kinh tiền đình được chuyển tới các tế bào thần kinh của các nhân vận nhãn chi phối các động tác bù đắp và phối hợp của hai mắt. Trong chóng mặt cấp tính, chủ yếu vì mất cân bằng kích thích các nhân tiền đình cả hai bên, tiểu não có xu hướng ức chế các nhân tiền đình. Sau vài tuần, các nhân tiền đình bên lành sẽ đảm nhiệm chức năng của các nhân tiền đình bên bệnh nhờ sự hình thành các khớp thần kinh bắt chéo dẫn đến sự cân bằng trong kích thích các nhân cả hai bên. Do đó các nhân tiền đình dần dần được giải phóng khỏi tác động ức chế của tiểu não. Toàn bộ quá trình nói trên được gọi là sự bù đắp nhờ đó về lâm sàng bệnh nhân chóng mặt sẽ lập lại được cảm giác thăng bằng dù nguyên nhân gây bệnh có thể chưa chấm dứt.

Theo tin tức y tế cho hay, trong trường hợp rối loạn chức năng tiền đình bệnh nhân có thể biểu lộ nhiều triệu chứng như: chóng mặt, buồn nôn, mất định hướng không gian, mất thăng bằng, ngã, kém kiểm soát hệ tự trị, nhiều triệu chứng trên có khi dai dẳng ngay cả sau một giai đoạn được bù đắp trung ương. Sự bù đắp trung ương tối đa điển hình thường diễn ra trong vòng từ ba tháng đến một năm sau các triệu chứng ban đầu và liên quan đến nhiều quá trình cơ chế khác biệt.

  • Chẩn đoán lâm sàng bao gồm chẩn đoán chóng mặt và các bệnh đồng diễn
  • Nguyên nhân ngoại vi gây nên bệnh thường có kèm theo ù tai hoặc điếc.
  • Bệnh tiền đình ngoại vi do viêm mê đạo, viêm tế bào thần kinh tiền đình, bệnh dây thần kinh tiền đình, viêm dây thần kinh tiền đình. Do virus
  • Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính.
  • Chóng mặt sau chấn thương.
  • Chóng mặt do dây tiền đình bị nhiễm độc do thuốc
  • Hội chứng mensiere ( phù nội dịch)
  • Các bệnh ngoại vi khác như: nhiễm khuẩn khu trú, thoái hóa tế bào lông, bất thường di truyền của mê đạo, u dây VIII, xơ hóa tai…

Do thiếu máu cục bộ, bệnh mất myelin của hệ thần kinh trung ương, u góc cầu- tiểu não, bệnh dây VII cục bộ hoặc trong bệnh hệ thống, tổn thương thân não, bệnh động kinh, bệnh di truyền, đau nửa đầu tiền đình.

Khi bị chóng mặt người bệnh cần làm gì?

Xử trí bệnh nhân chóng mặt

  • Điều trị triệu chứng

Hiện có bốn phương pháp điều trị chính cho các thể chóng mặt khác nhau:

Liệu pháp vật lý với các bài tập tiền đình hoặc các thủ thuật phóng thích thạch nhĩ. Các thủ thuật Semont, thủ thuật Semont cải tiến, thủ thuật Epley, bài tập Brandt – Daroff  thường được ứng dụng đối với chóng mặt kịch phát tư thế lành tính.

Liệu pháp dược lý.

Phẫu thuật.

Liệu pháp tâm lý.

Điều trị bệnh đồng diễn

Cần thực hiện chỉ định và hướng dẫn của chuyên khoa liên quan.

  • Thuốc điều trị chóng mặt

Liệu pháp dược lý

Một số thuốc sau có tác động tốt tới chóng mặt như:

Thuốc có tính kháng histamin: Flunarizin, Diphenylamin, Cinnarizin Diphenydramin, Betahistin.

Nhóm Benzodiazepin.

Một số thuốc chống co giật, động kinh, ví dụ Acid valproic, Carbamazepin, Gabapentin, Topiramate.

Thuốc chống co cơ: Myolastan, Myonal, Mydocalm, Décontractyl, Neuriplège, Lioresal, Baclofen.

Thuốc co mạch: Ergotamin, Triptan.

Thuốc giãn mạch: Piribedil, Vincamin.

Thuốc điều hòa tuần hoàn não: Piracetam,…

Thuốc tác động thần kinh trung ương: Tanganil (acetyl – DL – leucin)

Thuốc chống nôn: Metoclopramide, Ondansetron.

Trên đây là những thông tin được trang tuyển sinh Y dược tổng hợp về chứng chóng mặt mà chúng ta cần tìm hiểu để có hướng điều trị hợp lý.

Nguồn; yduocangiang.info